đông y

đông y

Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh phụ khoa theo y học cổ truyền

Lượt xem 248

Chúng ta đã biết những nguyên nhân mắc bệnh phụ khoa theo tây y. Hôm nay chuyên gia phòng khám Thiên Hòa xin chia sẻ về những nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh phụ khoa theo y học cổ tuyển.

Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh phụ khoa theo y học cổ truyền

Nguyên nhân

Nguyên nhân sinh bệnh đối với phụ khoa cũng giống như nội khoa là do ngoại nhân, nội nhân và bất nội ngoại nhân nhưng khi vận dụng vào bệnh  phụ khoa cần chú ý những đặc điểm sau.

nguyên nhân mắc bệnh phụ khoa theo đông y

Nguyên nhân bên ngoài: Chủ yếu do hàn, nhiệt và thấp. Phụ  nữ lấy huyết làm chủ; huyết gặp nhiệt thì lưu thông, gặp hàn thì ngưng trệ; nhiệt nhiều quá làm huyết đi sai dường gây chứng băng lậu; hàn nhiều quá làm huyết ngưng trệ không lưu thông gây thống kinh, bế kinh, trưng hà; thấp nhiều quá thường gây bệnh đới hạ.

Nguyên nhân bên trong: Thất tình liên quan đến 5 tạng, ảnh hưởng đến khí huyết. Các bệnh phụ khoa phần nhiều là ở huyết. Khí là chủ thể của huyết, huyết nhờ khí để vận hành, hai mặt này liên quan chặt chẽ với nhau. Khi thất tình kích thích phần nhiều làm hại khí, khí không điều hòa thì huyết không điều hòa, mọi bệnh từ đó sinh ra.

Bất nội ngoại nhân: Ham việc buồng the là một nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh phụ nữ. Vì mỗi lân giao cấu khí huyết bị phát động tối đa, gây tổn hại đến mạch xung – nhâm, can và thận bị hư yếu, tinh huyết bị tiêu hao, tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến kinh đới, thai sản.

Sách Nội kinh có ghi: “Bệnh huyết khô là vì lúc tuổi trẻ mất huyết quá nhiều hoặc ăn nhậu sau sưa rồi hành phòng làm cho khí kiệt, can huyết tổn thương cho nên kinh nguyệt không đều từ đó”.

Sách Chư bệnh nguyên hậu luận có ghi: “Đang lúc hành kinh mà giao hợp thì mạch máu bị co lại không ra kinh. Huyết kinh bế lại gây chậm kinh, bế kinh”.

Vì vậy mà Chu Đan Khê chủ trương hạn chế tình dục để phòng bệnh.

Cơ chế sinh bệnh

– Khí huyết không điều hòa

Phụ nữ lấy huyết làm căn bản. Các bệnh kinh, đới, thai sản đều liên quan mật thiết tới huyết, huyết phối hợp với khí. Sự thăng, giáng, hàn, nhiệt, hư, thực của huyết đều do khí; cho nên khí nhiệt thì huyết nhiệt mà sắc bầm, khí hàn thì huyết hàn mà sắc xám; khí thăng thì huyết nghịch mà vọt ra (xuất huyết), khí hãm xuống thì huyết đi xuống gây băng huyết.

Vì vậy nguyên nhân nào ảnh hưởng đến khí huyết đều làm cho khí huyết không điều hòa, gây các bệnh về kinh, đới, thai, sản.

– Ngũ tạng không điều hòa

Phụ nữ lấy huyết làm căn bản, mà nguồn sinh huyết là tỳ, thống soái chỉ huy huyết là tâm, tàng trữ huyết là can, phân bố huyết nhờ phế, nuôi dưỡng huyết do thận để nhuận tới khắp toàn thân. Nếu tâm khí suy yếu, huyết dịch không đầy đủ thì dễ sinh kinh nguyệt không đều, khó có con. Nếu can khí uất kết thì huyết không trở về can gây chu kỳ kinh không đều, băng lậu.

Nếu tỳ hư làm huyết hư hoặc khí hư hạ hãm gây nên rong kinh, rong huyết, đới hạ, bế kinh. Nếu phế khí hư không vận tống được huyết làm huyết khô, dịch tiêu hao; hoặc phế khí động dưới sườn gây chứng thở dốc, đau ngực (tức bôn). Nếu thận hư tổn gây nên các chứng bệnh của phụ khoa.

– Mạch xung – nhâm tổn thương

Hai mạch xung và nhâm có quan hệ mật thiết đến sinh lý và bệnh lý của phụ nữ. Hai mạch này phải tiếp nhận khí huyết, chất dinh dưỡng của 5 tạng mới phát huy được áp dụng. Phụ nữ mà khí huyết được điều hòa,  5 tạng được yên ổn thì mạch xung tràn đầy, mạch nhâm thông lợi. Khi có nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến mạch xung – nhâm đều có thể gây nên bệnh phụ khoa.

Tư vấnmiễn phí

Tags: , ,

đông y

Chữa bệnh khí hư đới hạ bằng đông y

Lượt xem 183

Cùng chuyên gia phòng khám đa khoa Thiên Hòa tìm hiểu về bệnh khí hư đới hạ và phương pháp chữa bệnh này bằng đông y. Khí hư, đới hạ là một chất dịch trong suốt ở bộ phận sinh dục nữ, rất cần thiết trong quá trình hoạt động sinh lý. Khi số lượng khí hư ra quá nhiều hoặc màu sắc bất bình thường như màu vàng, xanh, nâu hoặc có mùi hôi, tanh nồng khó chịu, có thể đó là biểu hiện bệnh lý.

Chữa bệnh khí hư đới hạ bằng đông y

Theo Đông y, khí hư đới hạ ra nhiều là do nhiều nguyên nhân như do thấp nhiệt, huyết ứ, khí uất, hư hàn hoặc nhiệt gây ra. Bệnh thường gặp ở những người có tính nóng nảy hay lo nghĩ, uất giận hoặc người bệnh có kèm theo trứng hà, tích báng…

Đông y chia ra nhiều thể bệnh tùy theo nguyên nhân mà dùng bài thuốc thích hợp.

Do thấp nhiệt

Triệu chứng: Khí hư đới hạ nhiều, tanh hôi, người bồn chồn trong ngực, ăn ít, ậm ạch khó tiêu bụng dưới to, ngứa âm hộ. Mạch sác.

đông y chữa khí hư đới hạ Bài thuốc: Thương truật 20g, bạch thược 40g, hoạt thạch 40g, bào khương 10g, địa du 40g, chỉ xác 10g, cam thảo 10g. Thương truật tẩm nước gạo sao vàng, chỉ xác bỏ ruột rửa sạch, bạch thược tẩm dấm vì sao. Các vị trên tán bột, hồ hoàn viên. Ngày uống 30g, chia đều làm 3 lần với nước chín.

Do huyết ứ

Triệu chứng: Khí hư đới hạ màu đỏ trắng lẫn lộn, mùi tanh, bụng dưới đầy đau, hành kinh không đều hoặc kinh đến trước kỳ hoặc một tháng 2 lần, người mệt mỏi, bứt rứt khó chịu. Mạch trầm.
Bài thuốc Đào nhân tán: Đào nhân 10g, bán hạ 12g, đương quy 16g, ngưu tất 12g, sinh địa 18g, quế tâm 10g, nhân sâm 10g, bồ hoàng 10g, mẫu đơn 12g, xuyên khung 12g, trạch lan diệp 10g, xích thược 16g, cam thảo 10g. Bán hạ chế, đào nhân bỏ vỏ, đương quy tẩm rượu vi sao, trạch lan diệp tửu tẩy.
Dạng thuốc bột: Các vị sao giòn tán bột mịn. Ngày uống 45g chia đều 3 lần với nước chín.

Do khí uất

Triệu chứng: Ngực sườn đầy tức, ăn uống không ngon, hay cáu giận. Khí hư đới hạ xích bạch ra nhiều, thất thường. Mạch huyền.

Bài thuốc Quy phụ địa hoàng hoàn: Đương quy 120g, xuyên khung 40g, thục địa hoàng 40g, hương phụ 40g, thương truật 80g, bạch thược 80g, mẫu lệ 20g, hoàng bá 60g, tri mẫu 60g, trần bì 60g, Ngũ vị tử 60g, thung căn bì 100g. Đương quy tẩm rượu vi sao, bạch thược tẩm dấm sao, thương truật tẩm cám gạo, mẫu lệ hà, thung căn bì sao rượu. Hương phụ tử chế. Các vị trên sao giòn tán bột mịn tinh tửu hồ vi hoàn. Ngày uống 60g chia đều 3 lần với nước chín.

Do hư hàn

Triệu chứng: Khí hư đới hạ xích bạch lâu ngày không dứt, tay chân lạnh, mặt xanh nhợt, ngại hoạt động, thích nằm, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, người cảm giác sợ lạnh. Rêu lưỡi trắng nhớt, chất lưỡi nhợt bệu. Mạch trầm trì.

chữa khí hư đới hạ bằng đông y

Bài thuốc Hạc đỉnh hoàn: Đương quy 20g, bào phụ tử 10g, long cốt 20g, ngô thù du 10g, mẫu lệ 15g, ngải diệp 10g, xích thạch chỉ 20g, thán khương 10g. Long cốt lung, ngô thù du tẩy để khô, vi sao; mẫu lệ nung; ngải diệp sao đen, đương quy tẩm rượu sao. Tất cả các vị trên tán bột làm viên với hồ dấm. Ngày uống 45g, chia đều 3 lần với nước sắc ô mai.

Do hư nhiệt

Triệu chứng: Khí hư xích bạch đới hạ nhiều, ngũ tâm phiền nhiệt, khát nước, hai gò má đỏ, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch tế sác.

Bài thuốc Tố nguyên đơn: Bạch truật 10g, mao truật 10g bạch thược 10g, a giao 10g, địa du 10g, phục linh 10g, thung căn bì 12g, hoàng bá 12g, thục địa 16g, đương quy 16g, hương phụ 16g, xuyên khung 12g, nhân sâm 12g. Đương quy tẩm rượu sao, thục địa tửu chung, hương phụ chế, thung căn bì, hoàng bá tẩm rượu sao. Tất cả các vị trên (trừ a giao) tán bột mịn tinh. A giao hoà tan với hồ giấm hoàn viên. Ngày uống 45g chia đều 3 lần với nước ấm.

Do thận hư

Triệu chứng: Khí hư trắng loãng như lòng trắng trứng, người mệt mỏi, sắc mặt xạm tối, chân tay lạnh, bụng dưới lạnh, đại tiện sệt, tiểu tiện trong và nhiều, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì.

Bài thuốc: Thục địa 16g, quế chi 10g, bạch linh 12g, khiếm thực 12g, phụ tử 10g, sơn thù 6g, cam thảo 4g, trạch tả 10g, hoài sơn 12g, táo 10g, đan bì 12g, hà thủ ô, mẫu lệ 10g.

Dạng thuốc sắc: Các vị trên + nước 1.000ml sắc lọc bỏ bã lấy 200ml. Uống ấm, chia đều ngày 3 lần.

Lời khuyên: Dù bạn có dùng phương pháp điều trị bệnh, khi có các biểu hiện của khí hư ra nhiều, mùi hôi, màu sắc lạ cũng nên đi khám phụ khoa để tìm ra nguyên nhân và có hướng điều trị bệnh, không nên tự ý mua thuốc về điều trị khiến bệnh không khỏi mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe.

Tư vấnmiễn phí

Tags: , , ,



Kham phu khoa10/10 - Có 35638 người đã khám