y học cổ truyền

Bệnh viêm phụ khoa theo y học hiện đại và y học cổ truyển

Lượt xem 87

Cùng chuyên gia phòng khám Thiên Hòa tìm hiểu về bệnh viêm phụ khoa theo quan điểm của y học hiện đại và y học cổ truyền.

– Theo y học hiện đại:

+ Nguyên nhân: thường xảy ra sau đẻ, nạo, sẩy, hành kinh, hoặc cơ thể sức đề kháng giảm, nhiễm trùng ngược dòng, qua đường máu (ít gặp 2%), lao sinh dục, biến chứng quai bị.

+ Triệu chứng:

Cơ năng: đau vùng hạ vị, thường đau cả hai bên hố chậu, đau liên tục, có khi đau từng cơn dữ dội, có thể có sốt, mạch nhanh.

Thực thể: nắn bụng thấy đau vùng hạ vị. Thăm âm đạo: có khối nề cạnh tử cung, tử cung di động hạn chế, khi viêm chưa lan tỏa sẽ nắn thấy vòi trứng căng thành một khối, ấn đau. Khi viêm lan tỏa thì các bộ phận xung quanh dính với vòi trứng thành khối nề, ấn vào rất đau, khi đó thành bụng sẽ có phản ứng.

viêm phụ khoa theo y học hiện đại

+ Chuẩn đoán: 

Chuẩn đoán xác định: dựa vào tiểu sử có bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục hoặc nhiễm khuẩn sau thủ thuật buồng tử cung và các triệu chứng đau vùng hạ vị, sốt, có khối nề cạnh tử cung, ấn đau.

Chuẩn đoán phân biệt với: viêm ruột thừa, viêm phúc mạc tiểu khung, u nang buồng trứng xoắn, chửa ngoài tử cung.

+ Điề trị: điều trị nội khoa là chính

Nghỉ ngơi.

Kháng sinh.

Nâng cao thể trạng.

Lý liệu pháp: chiếu tia hồng ngoại.

Điều trị ngoại khoa đặt ra khi có túi mủ khu trú và sau khi điều trị tích cực bằng kháng sinh không đỡ.

– Theo y học cổ truyền: Được mô tả trong chứng trưng hà.

+ Trưng: là khối tích tụ của huyết. Huyết thuộc âm, tính chất của âm là chìm, lặng nên đau cố định tại chỗ.

+ Hà: là khối tích tụ của khí. Khí thuộc dương, tính chất của dương là nổi và động nên đau không cố định.

+ Điều trị: chia làm 4 thể (1 thể cấp tính và 3 thể mạn tính).

Tư vấnmiễn phí

Tags: , ,

y học cổ truyền

Chuẩn đoán bệnh phụ khoa theo y học cổ truyền

Lượt xem 237

Chuyên gia phòng khám Thiên Hòa chia sẻ những chuẩn đoán về bệnh phụ khoa theo y học cổ truyền. Chúng ta cùng tìm hiểu y học cổ tuyền đã vận dụng tứ chuẩn trong chuẩn đoán bệnh phụ khoa như thế nào:

Chuẩn đoán bệnh phụ khoa theo y học cổ truyền

– Vọng chẩn(nhìn)

Nhìn thần, sắc, toàn trạng giống như nội khoa. Cần chú trọng nhìn lưỡi với các đặc điểm sau:

+ Chất lưỡi đỏ tươi là chứng huyết nhiệt.

+ Chất lưỡi nhợt là chứng huyết hư.

+ Chất lưỡi trắng nhợt là khí huyết hư

– Văn chẩn(nghe, ngửi)

+ Máu kinh khắm thối là nhiệt, tanh là hàn, hôi là huyết ứ.

+ Khí hư khắm thối là nhiệt, khắm hôi như cóc chết là thấp nhiệt ứ kết thành độc

– Vấn chẩn(hỏi)

+ Hỏi về kinh nguyệt

Hỏi tuổi bắt đầu thấy kinh lần đầu, chu kỳ kinh, số ngày có kinh, lượng kinh, màu sắc, tính chất, mùi vị của máu kinh; đau lưng, đau bụng và các chứng khác kèm theo. Nếu hành kinh có đau bụng dưới, cự án là chứng thực; còn đau âm ỉ mà thích xong thích chườm nóng là chứng hư. Có cảm giác bụng dưới nặng tức khi sắp hành kinh là khí trệ; còn có đau tức ngực, đắng miệng là can khí uất trệ. KHi hành kinh có phù và ỉa lỏng là tỳ hư, hành kinh xong đau bụng là huyết hư. Nếu kinh trước kỳ, lượng nhiều đỏ tươi, mặt đỏ, khát, thích mát, sợ nóng, thường là nhiệt; còn kinh sau kỳ, lượng ít, nhợt, thích ấm, sợ lạnh thường là hàn.

Nếu không có kinh 2 tháng, buồn nôn, thích ăn chua, ăn kém, mệt mỏi là có thai. Nếu không có kinh nhiều tháng, mặt bệch, chóng mặt hoa mắt, tim đập mạnh, thở yếu,  ăn ít, da khô, lại không có thai là bế kinh.

+ Hỏi về đới hạ: Chú ý màu sắc, lượng, mùi của đới hạ. Nếu màu trắng lượng nhiều, mỏi mệt, ăn kém là tỳ hư thấp trệ. Nếu màu vàng hoặc xanh đặc, dính hôi và ngứa ở âm hộ là thấp nhiệt. Nếu có màu như máu cá, ra liên tục, hơi hôi thường là nhiệt uất ở kinh can.

+ Hỏi về chửa đẻ: Hỏi số lần chửa đẻ, số lần sẩy thai, nạo thai; sau cùng hỏi về tình trạng thai nghén, sinh đẻ. Nếu lấy chồng nhiều năm không có chửa hoặc đã sinh rồi, sau đó không có chửa nữa, thường có đau mỏi thắt lưng, hoặc có thai song sẩy liên tiếp là thận hư, hai mạch xung – nhâm bị tổn thương. Nếu đẻ nhiều lần, mất máu nhiều thường là do khí huyết không đủ.

chuẩn đoán của y học cổ truyền về bệnh phụ khoa

– Thiết chuẩn(bắt mạch): Chú ý bốn loại mạch: mạch kinh nguyệt, mạch có thai, mạch khí hư, mạch vô sinh.

+ Mạch kinh nguyệt:

Sắp có kinh mạch thốn bên phải phù hồng hoặc riêng mạch thốn hoạt, kèm theo miệng đắng, trướng bụng.

Đang hành kinh: mạch thốn bên phải phù hồng hoặc mạch quan hơi huyền, hoặc mạch thốn hai bên hơi phù.

Kinh trước kỳ lượng nhiều (do nhiệt ơ xung, nhâm): mạch huyền hoạt sác.

Kinh trước kỳ, lượng ít (do âm hư, huyết nhiệt, huyết thiểu): mạch tế sác.

Kinh sau kỳ, lượng ít (hư hàn, huyết hải bất túc): mạch trầm trì.

Kinh nguyệt không đều, can tỳ hư tổn có mạch quan hai bên hư yếu. Khí hư hạ hãm, mạch trầm tế.

Kinh bế (khí huyết hư): mạch xích vỉ sáp; (khí hư đàm thấp): mạch trầm hoạt.

Băng lậu: mạch hư đại huyền sác là hiện tượng bình thường, mạch phù hồng sác là hiện tượng xấu.

+ Mạch khí hư

Khí hư nhiều trắng hoặc vàng; nếu thấp nhiệt mạch bên trái huyền sác, bên phải trầm tế có lực; nếu đờm thấp đình trệ: mạch bên trái hoạt đại có lực.

Khí hư ra nhiều, loãng (thận dương hư) mạch trầm trì vi nhược, đặc biệt mạch ở hai mạch xích.

+ Mạch có thai

Mới phá thai: mạch hoạt hoặc mạch thốn bên phải vì xích hai bên hoạt lợi.

Phòng sẩy thai: sáu bộ mạch trầm hoãn sáp hoặc mạch xích hai bên đều yếu, đó là khí huyết hư yếu cần phòng sẩy thai, đẻ non.

Sắp đẻ: thai đầy tháng tuổi, mạch có thể phù sác, tán loạn hoặc trầm tế hoạt, kèm theo đau bụng lan ra cột sống.

+ Mạch vô sinh: Bụng dưới thường xuyên lạnh, mạch xích vi nhược sáp.

+ Mạch sau sinh đẻ: Bình thường phải là hoãn hòa; không nên là hồng đại, huyền.

Tư vấnmiễn phí

Tags: ,



Kham phu khoa10/10 - Có 35638 người đã khám